HƯỚNG DẪN CỦA BỘ Y TẾ VỀ PHÒNG BỆNH VIÊM GAN SIÊU VI B

HƯỚNG DẪN CỦA BỘ Y TẾ VỀ PHÒNG BỆNH VIÊM GAN SIÊU VI B

1. Phòng bệnh chủ động

–  Tiêm vắc xin VGVR B cho tất cả trẻ em trong vòng 24 giờ sau sinh và các mũi kế tiếp theo hướng dẫn của chương trình tiêm chủng mở rộng.

– Tiêm vắc xin VGVR B cho các đối tượng chưa nhiễm HBV, đặc biệt ở các đối tượng có nguy cơ lây nhiễm HBV cao ( nhân viên y tế, người có tiền sử truyền máu, người tiêm chích ma túy, người có quan hệ tình dục không an toàn, gia đình có người nhiễm HBV…)

– Tiêm vắc xin VGVR B an toàn trong thai kỳ, phụ nữ mang thai chưa bị nhiễm HBV và chưa có kháng thể bảo vệ nên được tư vấn và tiêm phòng nhất là ở các thai phụ có nguy cơ lây nhiễm HBV cao.

–  Nên xét nghiệm HBsAg và anti-HBs trước khi tiêm vắc xin:

+ Nếu HBsAg âm tính và anti-HBs <10 IU/ml: tiêm phòng theo lịch;

+ Nếu HBsAg âm tính và anti-HBs ≥ 10 IU/mL: không tiêm phòng theo lịch, không cần thiết xét nghiệm lập lại định kỳ.

2. Phòng lây truyền từ mẹ sang con

– Tiêm vắc xin VGVR B liều sau sinh cho tất cả trẻ em theo chương trình tiêm chủng mở rộng.

– Trẻ sinh ra từ mẹ có HBsAg dương tính: tiêm kháng huyết thanh VGVR B và vắc xin VGVR B trong vòng 24 giờ sau sinh. Nên tiêm cùng thời điểm nhưng ở hai vị trí khác nhau. Sau đó tiêm đầy đủ các liều vắc xin VGVR B cho trẻ theo quy định của chương trình tiêm chủng mở rộng.

– Đối với các trường hợp thai phụ có tải lượng HBV DNA > 200.000 IU/mL (> 106 copies/mL) hoặc HBsAg định lượng > 104 IU/mL, tư vấn điều trị dự phòng lây truyền HBV từ mẹ sang con

+ Dùng TDF từ tuần 24 – 28 của thai kỳ, nếu muộn hơn thì nên bắt đầu ít nhất 4 tuần trước sinh và liên tục đến 4 – 12 tuần sau sinh

+ Theo dõi tình trạng của mẹ gồm triệu chứng lâm sàng, AST, ALT mỗi 4 – 12 tuần, tải lượng HBV DNA trong vòng 24 tuần sau sinh để phát hiện VGVR B bùng phát.

+ Xét nghiệm HBsAg và anti-HBs cho trẻ > 12 tháng tuổi để đánh giá tình trạng nhiễm HBV.

– Không chống chỉ định nuôi con bằng sữa mẹ ở những người mẹ có HBsAg dương tính và mẹ đang sử dụng TDF để điều trị bệnh hoặc điều trị dự phòng

3. Phòng bệnh không đặc hiệu

– Đảm bảo an toàn truyền máu và các chế phẩm của máu

– Không dùng chung kim tiêm và các dụng cụ xuyên chích qua da

– Thực hiện an toàn tình dục

– Tránh tiếp xúc với máu và các dịch tiết của người bệnh nhiễm HBV

– Thực hiện các biện pháp phòng ngừa chuẩn dự phòng các bệnh lây truyền qua đường máu.

Nguồn: https://bit.ly/2MNnhnA